TIẾNG MỎ HỒI MỘT

Lê Quốc

 

Đêm hai mươi ba Tết, trời tối đen như mực . Xóm Cái Nứa nằm ngủ im lìm . Có tiếng chó sủa vu vơ từ xa vọng lại.  Gió bấc thổi xào xạc trên mấy ngọn mù u, lùa qua vách lá mấy căn nhà nghèo xơ xác.  Càng về khuya , sương muối nặng hột rơi lộp độp trên mấy tàu lá chuối. Vài con vạc ăn đêm  cất tiếng kêu cào quét  rã rời.Văng vẳng từ xa, tiếng tù và '' u. u...  u.u  '' của vợ chồng ông Tư chèo đò đưa khách ra chợ Vảng rúc lên một hồi dài rồi tắt ngủm , trả lại cái im lặng vắng ngắt như tờ trong bóng đêm dày đặc . Căn chòi lá trống hốc của vợ chồng Bảy Nên, phên líp sơ sài, đang cố chống chọi vất vả với từng cơn gió lạnh đâm sầm vào nhà như muốn dở nóc liệng đi . Con cúi trước hàng ba, một cơn gió tạt vèo ngún lên một đốm lửa xanh leo lét .

Bảy Nên đang ngủ bỗng giựt mình choàng dậy vì tiếng mõ hồi một nổi lên liên hồi, vang động cả một góc trời. Tiếng mõ từng hồi một, thật lớn ở đầu hồi rồi nhỏ dần, càng nhỏ càng nhanh về sau và dứt hồi bằng một tiếng mõ thật lớn, rồi một hồi khác tiếp nối. Một hồi khác tiếp nối một hồi khác. Âm thanh hối hả, vồn dập, thôi thúc làm mọi người ớn lạnh xương sống. Tiếp ứng với tiếng mõ, là tiếng thùng thiếc, tiếng phèn la, tiếng mõ tre nổi lên vang dội cả một góc trời. Xen lẫn vào tiếng mõ là tiếng la thất thanh : Mõ hồi một...mõ hồi một .. Đi tiếp cứu. Mau lên, mau lên.Tiếng kêu la hổn độn, tiếng người  quát tháo, tiếng chưn chạy bình bịch, những cây đuốc sáng rực bập bùng, quơ lên quơ xuống rào rào, vẻ lên một vệt sáng di động vun vút trên đường làng. Mỗi khi có tiếng mõ hồi một nổi lên nhứt định là có chuyện lớn như án mạng, giết ngưới, trộm cướp, thắt cổ, chết trôi ..  Đàn bà, trẻ con lấp ló trong cửa. Thanh niên trai tráng, các người trung niên tự động vác dao mác, gậy gộc, chạy theo dòng người tiến về phía rặng trâm bầu trên đất thầy Cai .                                                                                     

Rút cái mác vót đang vắt trên vách lá, Bảy Nên  nhanh chưn chạy theo dòng người đang ùn ùn tiến  ra bìa ruộng. Một cảnh tượng ghê rợn hiện ra dưới bụi trâm bầu, cạnh miệng đìa lau sậy mọc um tùm : một xác người nằm sóng sượt trên mặt đất. Mọi người đồng thanh la lớn : Thằng  Đực - cháu  Năm Giò . Trời ơi ! Nó bị trấn nước . Mọi người bu quanh thằng Đực, áo quần ướt đẫm, miệng mũi rỉ máu đỏ lòm, tay bị trói gặp ra đàng sau. Có tiếng nói : Đứa nào chạy lẹ , đi báo giùm thầy Hương quản . Một giọng nói khác : Khỏi , thầy Hương quản tới kìa.             

Hương quản Cừ vừa chạy tới vẹt đám dân làng , cúi gập ngưới xuống, lấy tay rờ ngực, rờ bụng, vạch mí mắt nạn nhân ra xem , rồi hét lớn : tim còn đập, mau xốc nước cho nó . Một anh cai tuần lực lưỡng, dường như thạo việc nầy, kề vai  cho hai người khác đở nạn nhân  cho đầu dọng xuống đất , hai chưn ngược lên trời . Anh tuần đinh nắm hai chưn nạn nhân rồi phát chạy dọc theo bờ m?u .Nước đầy ứ trong bao tử, bị xốc ngược, ọc ra ào ào, ướt cả áo quần anh cai tuần . Một lúc sau, nước ọc ra hết , bụng xẹp xuống, thằng Đực được đưa nằm trên những bó rơm trải trên miệng đìa , bất động . Hương quản Cừ ra lịnh : Ai có áo làm ơn cho mượn đấp cho nó. Một nông dân trọng tuổi cởi phăng chiếc áo bà ba đen đưa cho thầy Hương quản đấp lên người thằng Đực. Các người khác , người thì chạy đi lấy rơm đốt lên hơ lửa ấm, người thì lần túi lấy chai dầu Nhị thiên Đường thoa bóp tay chưn thằng Đực. Mọi nguời xầm xì bàn tán : Ai đâu mà ác nhơn,thất đức quá vậy . Thằng nhỏ hiền lành như đất cục. Đâu có thù oán gì với ai. Tiếng một người khác - dường như Trưởng ấp  ba Thơm : Không có lửa sao có khói ? Mình chưa biết chuyện gì không nên bàn tán, chờ thầy Hương quản lập vi bằng. Môt hồi lâu, nạn nhân bắt đầu thở thoi thóp. Mọi người mừng rở la lớn : Nó tỉnh rồi ! Hương quản Cừ ra lệnh : Thôi ! Bà con ai về nhà nấy. Trùm Thu và Mười Lượng, tụi bây khiên nó ''dìa'' nhà việc, sáng mai tao làm ăng kết trình quan chủ quận.

Trời đã đâm mây ngang . Sao mai điểm một chấm sáng ở chân trời . Dân làng lục tục kéo nhau về nhà. Bảy Nên cầm cái mác vót  đứng im lặng, đâm chiêu nhìn  thằng Đực được khiêng đi  cho đến khi khuất dạng. Bảy Nên ngước mặt nhìn trời, thở dài... Ông đã hiểu rõ nguồn cơn.

Bảy Nên, người trong làng quen gọi ông là già Bảy, tổ tiên mấy đời sống trong cái xóm nghèo xơ xác nầy. Xóm Cái Nứa nằm trên một chi nhánh sông Tiền, lèo tèo vài trăm căn nhà lá. Thỉnh thoảng cũng có vài căn nhà ngói đỏ của Cả Thâu , chủ Mạnh, oai vệ nhứt là cơ ngơi của Cai Tổng Hoành, ngạo nghể vượt lên xóm nhà lá đang núp dưới  lùm cây um tùm . Dân cư thưa thớt, hầu hết là tá điền của Cai Tổng Hoành và bà Phó Ngò, sống bằng nghề ruộng rẩy, chài lưới, đóng đáy, giăng câu, thợ mộc, thợ rèn, làm mướn, làm ruộng - cuối mùa phải đong lúa ruộng. Có năm thất mùa, thiếu ăn phải vay nợ chủ điền. Cuộc sống họ rất cơ cực, lầm than. Tổ tiên ông Bảy gốc người Bình Định  theo chân đoàn người phiêu lưu mạo hiểm, tiến về phương Nam tìm đất mới . Một số ngược dòng sông Sàigòn rồi dừng chưn tại Tây Ninh.  Một số khác dùng thuyền buồm xuôi Nam, lần theo các cửa biển rồi theo dòng sông Cửu Long, đến  định cư tại các miền Lục Tỉnh - châu thổ sông Tiền, sông Hậu. Gia đình tổ tiên ông Bảy Nên dừng chưn trên một chi nhánh sông Tiền .

Miền Nam thưở ấy là một vùng đất hoang vu, nước mặn phèn chua, chim kêu vượn hú, hùm beo rắn rít, sơn lam chướng khí ngút ngàn sương khói . Rừng tràm, rừng đước mênh mông. Chiều về, muổi rừng bay vãi ra như trấu . Lãy tay quơ một phát, muổi đầy một nắm tay. Tổ tiên ông đốn cây, phá rừng, đào mương xẻ rảnh cho phèn chua lắng xuống, nước ngọt sông Tiền tràn vào, đem phù sa bồi đắp ruộng vườn. Đất đã bắt đầu sản xuất được lúa ăn , ruộng vườn xanh mát, tôm cá đầy sông . Cuộc sống tuy vất vã, tay làm hàm nhai , nhưng ấm no, sung túc. Mãi cho tới đời ông nội ông thì tai hoạ xảy tới...                 

Gia đình ông nội ông Bảy Nên đang sống yên ổn  trên thửa đất chừng năm mẩu ruộng và hơn chục công vườn . Huê lợi hằng năm đủ cho gia đình sống sung túc. Buổi sáng hôm đó, theo lời kể lại của cha ông Bảy Nên, một đoàn người do Hội đồng Bang và Hương quản Tửu hướng dẫn, gồm có quan Phó tham biện người Pháp, thầy kiện Périmé, quan Kinh lý đo đât đai và chức sắc trong làng, bất thần đến xóm Cái Nứa. Họ châm tiếng Tây rôm rốp, chỉ chỏ lung tung ngoài ruộng. Dân làng ngơ ngác, lo sợ, không biết chuyện gì xảy ra .

\Mấy tháng sau, nông dân xóm Cái Nứa được thầy Hương quản thông tri là cả một vùng đất bao bọc các làng Hòa Mỹ, Nhơn Phú, Mỹ An, Bình Phước, Long Mỹ - phần lớn là đất của hội đồng Bang đã khẩn từ lâu, sổ bộ đàng hoàng, có đóng thuế cho Nhà Nước hằng năm. Nay ai muốn tiếp tục làm ruộng trên đất nầy đều phải góp lúa ruộng - không muốn, thì trả đất lại cho ông Hội đồng. Nông dân kêu Trời ! Nhưng Trời cao quá, tiếng kêu của dân chúng xóm Cái Nứa, làng Bình Phước bị gió cuốn bay đi mất .                                                                             

Ức lòng vì đất vô cớ bị chiếm đoạt , ông nội của ông cùng một số nông dân trong vùng, đâm đơn kiện để xin lấy lại đất. Lực yếu thế cô, nội vụ bị xử chìm xuồng. Ông nội Bảy Nên buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cha ông tiếp tục ở lại trên mảnh đất  ông cha để giữ gìn mồ mã tổ tiên mấy đời - bây giờ vô cớ  đất bị người khác cướp mất, lòng ôm một mối hận cho tới ngày nằm xuống lòng đất .Liên tiếp mấy năm, mùa màng thất bát, sâu rầy tàn phá cả một vùng , cha ông túng quá phải đi vay nợ Hội đồng Bang. Vay nợ thì phải trả lời cắt họng . Trả không nổi thì vốn c?ng lời thành vốn mớI, cứ như vậy mà tích lủy chồng chất. Nợ trả hoài không dứt , trả bằng cả một đời lam lũ,  lầm than của người mang nợ , có khi phải trả thêm bằng cuộc đời ở đợ làm mướn , hoặc chăn trâu của con cái. Cha mẹ ông, lúc sống nghèo khổ túng thiếu triền miên, ở trong một căn chòi rách tả tơi, khi chết nằm ở ngh?a địa đầu làng.  Đến đời  ông  cũng chịu cùng số phận, cũng làm tá điền cho Cai Tổng Hoành là con trai hội đồng Bang Ông Cai tổng nầy dựa hơi quan chánh tham biện nên càng hống hách, hiếp đáp dân làng và cậu Tư con trai ông là một con dê xồm nổi tiếng phá hoại tiết trinh biết bao nhiêu đời  con gái trong vùng .

                                                                                                                       

*   *   *                                                                                                                                                                      

Làng xóm rộn rịp chuẩn bị lo ăn Tết .Nhưng căn chòi lá Bảy Nên vẫn im lìm vắng ngắt. Con chó vàng ốm nhách nằm thè lưởi trước hàng ba, không buồn lên tiếng sủa. Con cúi ngoài sân, lơ đảng nhả những sợi khói trắng chập chờn . Giàn bầu thúng lơ thơ mấy trái non èo uột. Miệng nhai trầu nhóc nhách, bà Bảy chạy ra sân nhổ phẹt xuống đất, quay sang ông Bảy đang sửa lại cái bàn ông Thiên trước sân, hỏi :

- Tết sát bên đít rồi, tính sau đây ông ?

- Tính cái gì bây giờ. Không có tiền đóng thuế thân, tiền đâu ăn Tết ?

- Cũng phải có chút gì để cúng Ông bà chớ ?  Bảy Nên thở dài   

- Tui cũng biết vậy, nhưng làm sao bây giờ ? Con heo nuôi hơn năm nay tính bán để ăn Tết, còn dư mua cho con Màng vài thước vải bông may áo cho nó mặc . Con gái lớn rồi  mà ăn mặc rách rưới quá, vú móm nơ nơ ra vậy, tội nghiệp nó. Nhưng bà coi, con heo bị dịch tả, lăn đùng ra chết . Thiệt nghèo, mắc cái eo . Tui buồn quá bà ơi ! Muốn bỏ xứ đi phức cho rồi !            

- Đi đâu bây giờ ?  Bà Bảy hỏi .

- Đi xuống  miệt Chắc Băng, Cạnh Đền .

- Làm nghề gì ? 

- Làm tá điền , Ông Bảy trả lời .

- Thì ở đây, mình cũng làm tá điền . Tá điền thì ở đâu cũng vậy thôi !

Ông Bảy đuối lý, làm thinh ... mắt ngó mông ra phía bờ sông . Ông lần lưng lấy bao thuốc rê móc ra  một cục, bỏ vào miếng giấy quyến se lại cho chặt rồi thè lưởi liếm dán lại . Ông bước ra sân, lấy con cúi đưa lên mồi thuốc, miệng bập bập rít một hơi dài phà khói mịt mù...      

Quay sang vợ, ông Bảy nói : Bà ở nhà,  tui đi ruộng một chút . Bảy Nên vào trong rút cái mác vót, vói tay lấy cái giỏ treo trên vách, lửng thửng bước ra khỏi nhà.                             

Tháng chạp, trời tạnh ráo. Nước rút chảy ra sông cái, cá tôm theo nước xuống các đường con lươn, các mương, xẻo, rạch con để  lần ra sông lớn . Bảy Nên làm hầm trên các bờ m?u theo đường nước chảy. Cá lóc, cá trê vàng, trê trắng, cá rô mề lọt hầm không ra được. Không đầy một tiếng đồng hồ, Bảy Nên bắt được cả giỏ cá , trở về nhà gặp xả Hai  đang bươn bươn đi ngược chiều . Không tránh được, Bảy Nên đành chạm mặt người mà ông không muốn gặp. 

Xả Hai bỗng lên giọng hách dịch  : 

- Bảy , mày trốn đâu ,tao kiếm mầy  cả tuần nay. Mầy biết hôm nay là ngày mấy rồi không ?

- Dạ biết thầy xả .Thầy ráng cho qua Tết , tui sẽ kiếm tiền đóng cho Thầy .

- Không được, lệnh quan chánh tham biện , thằng nào không đóng thuế đúng kỳ hạn thì bắt đóng trăn, giải ra Tỉnh . 

Bảy Nên năn nỉ :

- Tội nghiệp mà thầy xả, tui nghèo quá ,thầy ráng cho qua Tết, thế nào rồi tui cũng kiếm tiền đóng cho thầy.

- Tao kỳ hẹn cho mầy năm ngày nữa . Nếu mầy không có tiền đóng, tao chạy giấy lên quan chủ quận bắt mầy đóng trăn giải lên Tỉnh . Mày liệu hồn đó.                                   

Bảy Nên hết lời năn nỉ, nhưng Xả Hai ngoe ngẩy bỏ đi, không thèm đếm xỉa gì tới lời van xin cầu khẩn của Bảy Nên . Đi một đổi, xả Hai bỗng quay lại kề tai nói nhỏ với  Bảy Nên điều gì đó...

Bảy Nên giựt mình biến sắc.  Những gì mà ông lo sợ từ lâu, bỗng bất ngờ ập tới như  một cơn giông đầu mùa ...                                                                                                                                                                                                                                

*   *   *

Liệng cái giỏ cá xuống đất, Bảy Nên mặt mày buồn xo. Độ tàn điếu thuốc thì con Màng đi mót lúa cũng về tới.  Quần áo ướt đẫm . Gió từ mé sông thổi lên vù vù. Lạnh run , miệng đánh bù cạp, con Màng đở cái thúng giê đầy lúa ướt trên đầu, để xuống hàng ba, kêu : Má ơi má ! Ra coi  con mót được cả thúng lúa nè . Bà Bảy chạy ra : Cơ khổ dữ hông .Sao ướt mèm vầy nè . Lạnh thấy mồ tổ. Thay cái áo đi rồi vô đây, má hơ lửa cho. Màng ngoan ngoản vào thay áo  rồi ngồi bẹp xuống cái mo cau trước hàng ba cạnh con chó vàng quảy đuôi kêu ẳng ẳng . Bà Bảy âu yếm lấy tay hơ vào con cúi cho ấm rồi áp vào lưng ,vào má con. Hơi ấm lửa con cúi và cử chỉ âu yếm của bà , làm cho Màng hết lạnh và cảm thấy dễ chịu vô cùng .             

Hồi lâu, nó ngước nhìn má , thủ thỉ :  Má ơi! Bữa nay, ruộng Thầy cai sâu tuốt trong bưng, không ai coi . Mấy người cộ lúa làm đỗ cả bó, con mót đã quá đầy thúng giê nè ! Lúa chắc không hè ! Không có lúa lép như mấy lần trước . Mà má ơi ! Bữa nay có chuyện ngộ lắm ! Hồi nãy, con gặp cậu Tư Lớn , con Thầy cai ngoài bìa ruộng . Quần  con ướt nhẹp. Cái áo con bị tét một đường trước ngực . Cậu Tư nhìn con trân trối .Con mắc cở muốn chết . Cậu Tư biểu con về chuồng trâu trong đất cậu gần đó, cậu sẽ lấy quần áo khô thay cho con kẻo lạnh chết. Cậu còn rờ tay, rờ má con. Cẩu nói cẩu thấy con nghèo cẩu thương. Chịu cậu đi, cậu dẫn đi chợ Vảng sắm quần áo mới, cậu mua cho con cây kiềng vàng ăn Tết. Bà Bảy hoảng hốt nhìn con,  run run nói  :

- Rồi con có đi theo cậu hông ?

- Đâu có má ! Con mắc cở muốn chết , chạy một mạch về tới nhà, chút nữa đổ hết thúng lúa.

Bà Bảy thở phào nhẹ nhỏm :

- Ừ ! Đừng đi nghe con. Cậu Tư  chuyên môn gạt con gái chơi qua đường . Trong làng nầy có biết bao đứa bị cẩu dụ dỗ, gạt g?m ăn ở cho có chữa rồi bỏ, không ngó ngàng gì tới . Con Khéo , rồi con Thắm, con ông Tám Quyên làm thợ mộc và nhiều đứa nữa ờ đầu vàm Cái Nứa . Con còn nhỏ nên không biết chuyện con Lụa, con bà hai Tuội ở trong ngọn rạch Đình . Tội nghiệp con Lụa bị dụ dỗ đến có thai . Tới ngày sinh nở, cậu ngoảnh mặt làm lơ không nhìn tới, nó ra sau vườn đẻ đại. Xấu hổ quá ! phần sợ làng xóm chê cười, phần sợ bị cha mẹ rầy la mắng chữi, nó gói đứa nhỏ trong miếng giẻ rách đem bỏ cạnh bụi chuối sau hè. Mấy ngày sau , thằng nhỏ ngọ ngoậy, kêu la đói khát đến chết. Kiến bu, ruồi đánh hơi bay vù vù . Làng xóm tri hô lên. Mọi việc rồi cũng bị ém nhẹm. Thiên hạ xầm xì . '' Ai trồng khoai đất nầy?'' Ai cũng biết cha đứa nhỏ là ai nhưng cũng không ai dám hó hé vì sợ bị trả thù . Con nghe chưa ? Nghe lời má nghe con .

Con Màng nép sát vào lòng má mà nghe lòng ấm áp.                                                                     

Bà Bảy hôm nay có dịp nhìn kỹ đứa con gái độc nhứt của mình. Nó nhổ giò lớn đại. Thân hình nẩy nở. Ngực no tròn, căng cứng .Tóc mai mọc dài hai bên thái dương, lông măn lún phún đen mướt hai cánh tay. Nước da ngâm ngâm , hai đồng tiền nở ra hai bên má khi cười .Tuy quê mùa lam lũ nhưng Màng có đầy đủ hương sắc của một đóa hoa đồng nội, thiếu chi ong bướm nhởn nhơ. Nhìn con gái, bà Bảy thấy lòng mình tràn ngập niềm vui, nhưng lại đâm lo vơ vẩn...

Bà Bảy  vừa nói,vừa vạch đầu bắt chí cho con. Gặp chí đực, bà bò vào miệng cắn cái bụp, chí mén bà bỏ vào giữa hai  đầu móng tay cái , ép dẹp lép . Bà thường lấy vú cau chấm với tro bếp để con gái đánh răng cho trắng, lấy nước bồ kết gội đầu, rồi lấy dầu dừa xức cho tóc láng mướt mịn màng. Bà sung suớng nhìn mái tóc thướt tha của con, lòng lâng lâng một niềm vui sướng. Bà mong gả con gái mình cho một cậu trai làng thiệt thà, chơn chất làm ăn. Bà sẽ bắt rể để vợ chồng bà hủ hỉ tuổi già. Thằng Đực mồ côi cha mẹ đang ở với người chú ,  là một thanh niên hiền lành mà vợ chồng ông  để ý từ lâu.                      

Má con bà Bảy hôm nay sung sướng lắm ! Bà hối con xách nồi nấu cơm chiều . Màng vét khạp gạo rồn rột chỉ  còn có ba lon vừa đủ nấu buổi cơm chiều, đem ra sàng nước vo , rồi bắc lên ba ông Táo bắng đất lửa cháy đen thui . Gác những que củi chồng chéo lên nhau, lấy con cúi mồi lửa vào mớ lá dừa khô đặt dưới những que củi... Màng lấy ống thổi lửa bằng nứa  thổi phù phù.. Lửa bắc cháy lên ngọn kêu tách tách. Trong chốc lát, cơm sôi ùng ục. Chắt nước cơm vào tô, để làm canh, tắt bớt củi đang cháy để lửa riu riu . Chừng độ tàn phần tư cây nhang là cơm chín. Bà Bảy ra khạp bắt cá trê vàng làm sạch, đem kho bay hơi thơm phức. Màng chạy ra sau hè hái một mớ đọt rau lang, đem luộc. Cơm trắng nóng hổi, rau lang luộc chấm nước cá trê kho dầm ớt.. Bữa cơm đạm bạc nhưng chắc chắn sẽ ngon lắm ! Nhưng Bảy Nên nuốt không vô.. Đầu óc lỡn vỡn câu nói của xã Hai. Bảy Nên suy nghĩ lung lắm : Không được. Nhứt định không được. Thà chết chứ nhứt định không làm chuyện khốn nạn đó.  Nhưng làm sao có tiền đóng thuế thân ?  Không đóng thì mình sẽ ra sao ?  Nhìn vợ, nhìn con gái, ông ứa nước mắt . Ông thương vợ, thương con mà cũng cảm thương cho cảnh ngộ mình .  Bảy Nên bỏ đũa  bước ra ngoài sân ..                                                                                                                                                                                                                                                                                   

*    *    *                                                                                                    

Tiếng ca Vọng cổ buồn não nuột  của thằng Đực từ mé vườn thầy Cai vọng lại : ''Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy - mà sao cô gái năm xưa chẳng chịu ra .. ơ.ơ  chào. Cửa vườn nhà em đã khóa kín tự năm nào .Tôi vác đôi chiếu bông từ dưới ghe lên xóm rẫy.Chiếc áo nhuộm bùn đã lấm tấm giọt mồ hôi...Nhà của em sau trước vắng tanh,trong gió lạnh chiều đông bỗng có ai dạo tiếng nguyệt cầm như gieo vào lòng tôi một nỗi buồn thê thảm.''..ơ..ơ .. Thằng Đực nức nở trong câu vọng cổ mà tưởng chừng như mình bị người yêu phụ bạc như anh bán chiếu. Nó thẩn thờ kéo mấy dề rau mác từ dưới mương lên đấp lên mấy gốc cam sành trong vườn thầy Cai. Từ lâu, nó để ý thương con Màng nhưng thấy thân phận mình là người ở đợ, nên không dám hở môi. Nó hay đón con Màng ở đầu đường vào xóm, để nhìn trộm nhưng không dám nói gì. Nó quyết học sáu câu Vọng cổ và tập ca thật mùi m?n để hy vọng con Màng để ý tới nó. Có lần trong đám giỗ tại nhà ông Bảy, nó thấy con Màng liếc nhìn khi nó xuống hò một câu vọng cổ mùi rệu. Thằng Đực sướng run người.  Con Màng hôm đó  đơn sơ trong chiếc áo bà ba đen mà hàng nút trước ngực như muốn đứt tung ra vì đang tuổi dậy thì. Thằng Đực nhìn ngây ngất. Từ hôm đó, hình ảnh con Màng cứ lảng vảng trông đầu nó. Nó ước mơ được ôm con Màng vào lòng, để nói những câu mà nó học lóm được trong tuồng hát cải lương . Đang săn sóc vườn cam quít trong vườn thầy Cai, nó thầm van vái đất nước ông bà cho nó được gặp con Màng .                               

Bỗng có một giọng nói trong trẻo : Anh Đực ơi ! anh ca mùi quá ! Thằng Đực giựt mình, dụi mắt nói thầm : Không lẽ ông bà linh thiêng vậy sao ?  Mới vái vài câu thì con Màng lù lù đi tới .

Thằng Đực quăng gàu xuống đất, chạy lại con Màng, hỏi trỏng :

- Đi đâu dìa vậy

- Đi bắt hôi ngoài đập xã Nhì . Bữa nay bắt được nhiều cá rô mề, cá trê trắng , có tôm càng n?a

Thằng Đực hỏi gặn :

- Ủa , bắt hôi gì mà được cá lớn vậy ?                                                   

- Hổng phải đâu,  của cậu Tư đó . Cẩu là cháu của chủ đập, cẩu ra phía trước bắt được con nào thì bỏ vào giỏ của tui. Tui thấy cá tôm nhiều quá, cũng ham lắm ! Nhưng kỳ quá hà  ! má tui dặn đừng lấy gì của cẩu . Mấy đứa khác ngó tui cười khúc khích.. Tui đậy miệng giò lại. Cậu Tư nhét đại vào . Kỳ thấy mồ .                                                                 

- Cậu Tư giàu có, cá tôm rộng đầy lu mà đi bắt đập mần chi ?

- Đâu có, cậu đi mò mấy con nhỏ đi bắt hôi đó. Câu mò trúng ngực con năm Thẹo, nó la oai oái.

- Cậu có mò Màng không ?  - Mới đụng có một chút hè . Tui bỏ chạy lên bờ. Cẩu  ch?y theo nói đủ điều . Cẩu nói cẩu thương tui . Chịu cẩu đi, cẩu cho tiền sắm quần  áo, dẫn đi chợ Vảng mua bông tai bằng vàng y và còn cho tiền Ba đóng giấy thuế thân nữa.

Thằng Đực mặt xịu xuống, hỏi :                                                                                                   

- Màng có chịu đi chợ Vảng với Cậu Tư không ?

- Hổng có đâu . Má Màng nói cậu Tư hay gạt con gái lắm ! Màng hổng đi dâu.

Thằng Đực thở phào .Nó biết con Màng có cảm tình với nó, nhưng với thân phận côi cút, thấp hèn của mình, Đực chỉ mơ màng... Trời trưa nắng gắt.Tàn cây vú sữa trải bóng mát lung linh.

Thằng Đực đánh bạo nói với Màng :

- Nắng gắt quá ! Ngồi đây nghỉ chút rồi hãy dìa .

Con Màng cũng muốn ngồi nghỉ một chút vì trời nắng gắt quá .Nó ngồi xề xuống gốc cây vú sữa, lột nón lá xuống quạt phe phẩy. Thằng Đực ngưng tưới cây, bước tới ngồi cách xa xa con Màng.Trống ngực đánh thình thình . Mùi dầu dừa, mùi bùn non ngay ngáy pha lẫn với mùi da thịt con Màng làm thằng Đực choáng váng như vừa nốc một cốc rượu đế . Thằng Đực hồi hộp định tìm một câu gì để nói nhưng lưỡi líu lại. Hồi lâu, nó nói một câu lãng xẹt:

- Trới nắng quá hén ?

- Ừa !

- Màng à .                                                                                                                                                           

- Gì ?

- Màng nói Màng hổng thương cậu Tư, chớ Màng có thương ai  không?

- Có chớ . Màng thương Má, thương Ba Màng lắm !

- Hổng phải . Tui nói thương con trai kìa .

- Màng đâu có thương ai . Mà đâu có ai thương Màng đâu ?

- Có chớ : Mấy thằng con trai trong làng, tụi nó '' mết '' Màng lắm ! Thằng Ba Sõi, thằng Bảy Quẹo. Còn cậu Tư nữa .

Màng nói :

- Mấy người đó, tui hổng ưa đâu . Tía má tui nói sau nầy gả tui bắt rể .Sẳn trớn thằng Đực hỏi đại : Nếu có người chịu bắt rể, Màng có chịu không ?                                               

- Ai mà biết . Hỏi kỳ thấy mồ . Con Màng mắc cỡ, mặt đỏ rần .

Thằng Đực thấy thương quá, xích lại gần , bất thần nắm đại tay con Màng, run run nói :

-Tui thương Màng lắm ! Hai ba ngày không gặp , nhớ muốn chết ..

Con Màng rút tay lại :

-Kỳ thấy mồ ! Coi chừng người ta thấy,mắc cỡ chết ...

Thằng Đực không chịu buông tay , kéo đại Màng sát vào người rồi choàng tay ôm đại con Màng. Da thịt săn cứng. Bờ ngực no tròn run rẩy, hơi thở dồn dập...Thằng Đực ngất ngây. Con Màng nhắm mắt lại đê mê để mặc cho đôi tay thằng Đực phiêu lưu mò mẩm khắp thể thể mình...                     

Bỗng có tiếng người la lớn : Giữa ban ngày,ban mặt, tụi bây bắt cặp trong vườn tao hả ? Tao kêu Hương quản niệt đầu, đóng trăn bây lại .Tiếng cậu Tư la lối om sòm. Thằng Đực hoảng hồn buông con Màng ra. Màng gài nút áo lại, đứng dậy mắc cỡ sượng sùng. Thấy thằng Đực,Tư Lớn càng  tức giận cành hông : Té ra là mầy - thằng Đực mầy gan lớn bằng trời. Máu ghen nổi lên , Tư Lớn xấn tới bạt tay thằng Đực . Sẳn cây gậy cầm trong tay, Tư Lớn quất túi bụi lên người thằng Đực. Đưa tay đở đòn,thằng Đực không dám đánh lại , chỉ đưa tay đở rồi thuận tay bắt cây roi giựt bỏ.. Tư Lớn mất đà, chúi nhủi té xuống mương . Ướt lóp ngóp, kiếm chỗ trèo lên, mắc cỡ với con Màng, bèn chửi lớn : Tổ cha mầy. Quân khốn kiếp . Mấy dám đánh tao hả ? Tao sẽ bỏ tù mầy . Còn con Màng, cha mầy sắp bị ở tù  mà còn ở đây xà nẹo với trai .Tao cho cả lủ bây ở tù rục xương .. 

Vầng trăng tròn rầm tháng chạp  khuyết dần đến ngày hai mươi mốt, nửa đêm mới mọc ..  Đêm hai mươi ba Tết, trời tối đen. Gió hú ghê rợn trong mấy bụi trâm bầu. Thằng Đực , sau khi xảy ra chuyện, không thấy Thầy Cai quỡ mắng , cậu Tư thì lầm lì , không nói năng gì , nó vẫn tiếp tục ở đợ chăn trâu cho Thầy Cai . Tối đến, lùa trâu về chuồng . Lấy rơm đốt,  un muổi cho trâu rồi lấy nóp ra trải trên chiếc vạt tre nằm ngủ.. Nó nhớ con Màng đến thắt thẻo ruột gan. Từ hôm đó, nó không dám hẹn gặp con Màng nữa. Nửa đêm đang ngủ mơ màng, thằng Đực bỗng cảm thấy có cái gì đè nặng trên người nó đến nghẹt thở . Nó cố vùng dậy , nhưng một sức mạnh ghì chặt nó lại,lôi nó ra khỏi nóp . Nó nhướng mắt nhìn thấy hai người bịt mặt kín mít đè nó xuống,tay bụm miệng nó chặt cứng. Nó cố kêu la,vùng vẫy nhưng vô hiệu. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa  trói tay thằng Đực bẻ quặp ra sau,lôi ra gò mả lạn ,cạnh miệng đìa lau sậy mọc um tùm. '' Mầy muốn sống thì từ rày đừng bén mảng tới con Màng nữa . Mày còn tiếp tục thì kêu thằng chú mầy ra lượm xác mầy đem dìa . Nghe chưa con''.    Hai thằng bịt mặt đè đầu thằng Đực dìm xuống nước, hồi lâu kéo lên, rồi lại dìm xuống nhiêu lần như vậy cho đến khi thằng Đực uống nước đầy bụng, miệng mũi máu ra đỏ lòm,  bất tỉnh. Chúng kéo xác thằng Đực bỏ trên miệng đìa . Gần sáng, có người đi ruộng thấy tri hô lên , lấy ván ngựa làm mõ, đánh hồi một lên liên hồi Rồi khắp làng tiếng MÕ H-I MÔT nổi lên tiếp ứng. Thằng Đực may mắn được dân làng cứu sống và được khiên ra nhà việc. Sáng hôm sau , Thầy hương quản lập vi bằng, hỏi qua loa thằng Đực, chạy giấy lên quan chủ quận, thông qua thầy Cai Tổng . Mọi việc được ém nhẹm, êm ru.. Thằng Đực được thả về..

Tối hôm đó, Bảy Nên chứng kiến cảnh thằng Đực bị trấn nước gần chết .Trở về nhà, lòng ông nặng trĩu một mối lo âu buồn bả!  Ông biết rõ ai đã sai người đi trấn nước thằng Đực. Ông suy nghĩ về câu nói của xã Hai biểu ông nói cho con Màng chịu cậu Tư đi , đổi lấy tờ giấy ''hoảnh'', để đóng giấy thuế thân , còn lại mua quần áo và cây kiềng vàng cho con Màng . Ông trằn trọc suốt đêm . Ngổn ngang trăm mối bên lòng. Không thể được, trăm lần không - không thể bán con gái mình cho tên dâm dục, rồi bị nó bỏ rơi như vứt một miếng giẻ rách , để con gái mình phải ôm hận suốt đời . Ông đã có một quyết định trong đầu . 

Bảy Nên chuẩn bị  cùng vợ con và thằng Đực, gom góp áo quần, gạo củi,mắm muối đem xuống một chiếc xuồng cui, bí mật theo nước ròng bơi ra sông cái , rồi xuôi dòng nhắm hướng biển Ba Động  vùng Trà Mẹt,Trà  Cú mà tiến tới. Họ quyết định trốn khỏi nanh vuốt cai tổng Hoành và Tư Lớn .

Bảy Nên đành rời  bỏ xóm Cái Nứa, rời bỏ mảnh đất đã thấm đẫm mồ hôi và nước mắt của tổ tiên mấy đời . Lòng ông đau xót khôn cùng. Thỉnh thoảng quay mắt ngó lại hàng cây đen mờ mịt trong bóng đêm vùng trời xóm Cái Nứa, ông ứa nước mắt..

Nước ròng chảy xiết. Bốn mái dầm dùng tất cả sức mạnh và ý chí chém xuống nước ào ạt, xuồng nhẹ gặp nước xuôi, lướt đi rào rào như tên bắn.. Đến gần sáng, đã thoát khỏi vùng kiểm soát của cha con Cai Tổng Hoành. Buông dầm nghỉ mệt, họ nhìn nhau thở phào, nhẹ nhỏm ! Trên bờ sông, thiên hạ đón xuân, pháo nổ đì đùng ! Hôm đó là ngày mùng một Tết năm Ất Dậu . Con Màng e  ấp nhìn thằng Đực đang lui cui dở khạp gạo lấy hai đòn bánh tét, lòng nghe sung sướng lạ thường! Vợ chồng Bảy Nên cũng ngó nhau cười mản nguyện . Họ ăn Tết trên chiếc xuồng cui , bằng hai đòn bánh tét .    

Trên đường viền trắng tận chân mây,  nơi gặp gở giữa trời và nước , những tia nắng bình minh  lấp lánh như những tia hy vọng trong lòng gia đình một nông dân nghèo miền Nam thuở ấy .